Sản xuất sạch hơn tại Việt Nam
...Vì một nền công nghiệp cạnh tranh hơn

Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Nam Hưng

Địa chỉ: thôn Châu Hiệp, thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam. Điện thoại: 0510.877.595. Sản phẩm: Sợi canh đã hồ và vải cotton. Sản lượng: 1.000.000 m vải tẩy trắng (khổ 1,25m) & 30.000 m vải nhuộm (khổ 1,25m)⁄năm. Thời gian triển khai SXSH: 2008. Đơn vị hỗ trợ: CPI.

Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Nam Hưng là một công ty tư nhân được thành lập từ năm 2005, chuyên sản xuất và gia công các sản phẩm dệt làng nghề các loại theo nhu cầu của thị trường. Xuất phát từ tiềm năng và thế mạnh của địa phương có nghề truyền thống ươm tơ, dệt lụa, ban đầu công ty là một xưởng tư nhân quy mô gia đình tự tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đồng thời làm dịch vụ gia công tẩy vải theo đơn đặt hàng của khách trong làng nghề. Năm 2005, chính thức thành lập Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Nam Hưng theo quyết định số 3302080549/QĐ-SKH&ĐT ngày 28 tháng 4 năm 2005 do Sở Khoa học và Đầu tư tỉnh Quảng Nam cấp.

Ngành nghề chính của công ty là mắc - hồ sợi, tẩy và nhuộm vải. Sản phẩm chính của Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Nam Hưng là sợi canh đã hồ và một số loại sản phẩm vải coton làng nghề. Sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa các tỉnh miền Trung, Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Thiết bị đang sử dụng tại công ty là dây chuyền mắc - hồ sợi, tẩy và nhuộm theo công nghệ cũ chế tạo trong nước rất lạc hậu. Mặt khác Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Nam Hưng nằm trong khu dân cư đông đúc của làng nghề và diện tích xưởng sản xuất rất chật hẹp nên cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu bảo vệ môi trường.

Hoạt động sản xuất chính của Công ty sản xuất sợi canh đã hồ và các loại vải làng nghề từ nguồn nguyên liệu cọc sợi. Búp sợi được đem mắc vào máy mắc cửi. Sau đó được mắc qua các mâm lớn tạo thành từng trục lớn. Sau khi sợi được rải đều trên mâm mắc cuốn vào mâm cửi gọi là mâm cửi bổi. Sau đó sợi được hồ tại máy hồ. Mục đích của quá trình hồ là làm sợi cứng hơn để khi dệt không bị đứt. Sợi sau khi hồ gọi là canh và được xuất đi các hộ sản xuất trong làng nghề để thuê dệt thành vải. Vải nhập về từ các hộ sản xuất sẽ được giặt tẩy thành vải tẩy trắng hoặc nhuộm thành vải màu theo yêu cầu tiêu thụ của thị trường. Sau đó vải được giặt hai lần bằng nước thường và được sấy hoặc phơi khô và nhập kho thành phẩm.

Đối với Công ty, các nguồn ô nhiễm của quá trình sản xuất là nhiệt độ, khói và bụi thải lò hơi, bụi bông, nước thải có BOD và hoá chất dư cao. Trung bình mỗi ngày, công ty thải ra khoảng 25-30m3 nước thải có lẫn hoá chất. Quá trình hồ sợi, tẩy trắng và nhuộm thường tạo ra những dòng thải chính của Công ty. Nước thải có pH, chất rắn lơ lửng SS, BOD và COD  rất cao. Hiện nước thải của công ty chưa được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường. Bên cạnh đó, do sử dụng lò hơi đốt củi nên Công ty cũng thải ra khoảng 100kg khói lò và bụi rò rỉ. 

Nhận thấy nhu cầu cần thiết phải áp dụng SXSH để nâng cao hiệu suất sản xuất và giải quyết các vấn đề về môi trường, Công ty đã tích cực tham gia vào dự án trình diễn SXSH của Hợp phần sản xuất sạch hơn trong công nghiệp từ năm 2008.

Nhà máy đã thành lập đội SXSH gồm 4 thành viên, có nhiệm vụ xem xét, xác định các trở ngại, phân tích các giải pháp tiết kiệm năng lượng, tài nguyên. Đội đã phối hợp với các chuyên gia tư vấn SXSH để tập trung đánh giá SXSH cho toàn bộ dây chuyền dệt. 14 cơ hội áp dụng SXSH đã được đề xuất áp dụng, trong đó 12 giải pháp đã được triển khai và mang lại lợi ích cụ thể như sau:
 

Lợi ích kỹ thuật  Lợi ích kinh tế  Lợi ích môi trường 
 Giai đoạn 1:
 Giảm 6.7% suất tiêu thụ tinh bột sắn  Tiết kiệm 23 triệu đồng

Giảm nhiệt độ trong nhà xưởng và cải thiện môi trường làm việc cho công nhân 

Giảm lượng nước thải ra môi trường





 
 Giảm 24% suất tiêu thụ keo PVA  Tiết kiệm 38 triệu đồng
 Giảm 20% suất tiêu thụ parafin   Tiết kiệm 13 triệu đồng
Giảm 62.9% suất tiêu thụ  H2O2 Tiết kiệm 54 triệu đồng
 Giảm 14.3% suất tiêu thụ củi  Tiết kiệm 68 triệu đồng
 Giai đoạn 2: 
 Giảm 12.78% suất tiêu thụ tinh bột sắn  Tiết kiệm 73 triệu đồng  Giảm phát thải 162 tấn CO2; giảm khai thác rừng lấy củi; giảm bụi trong khí thải lò hơi; giảm lượng khí thải
Giảm phát sinh chất thải rắn khoảng 1 tấn/năm
Giảm lượng nước thải ra môi trường (khoảng 2000m3/năm)
Giảm tải lượng ô nhiễm trong nước thải (khoảng 87.000 kgBOD/năm; 138.000kgCOD; 8.000kgSS/năm)
 Cải thiện chất lượng môi trường làm việc cho công nhân (Giảm được bụi bông và khí thải, hơi nóng trong nhà xưởng)
  Giảm 49.8% suất tiêu thụ keo PVA  Tiết kiệm 103 triệu đồng
 Giảm 33.3% suất tiêu thụ parafin  Tiết kiệm 34.4 triệu đồng
 Giảm 62.9% suất tiêu thụ  H2O2  Tiết kiệm 58.4 triệu đồng
 Giảm 28.6% suất tiêu thụ củi  Tiết kiệm 142 triệu đồng


Các giải pháp SXSH tiêu biểu như sau:
 

 TT  Tên giải pháp Đầu tư  Hiệu quả  Nhóm giải pháp 
1  Bảo ôn tất cả các vị trí ống hơi và thiết bị nhiệt  12 triệu đồng Tiết kiệm 12 triệu đồng/năm
Giảm nhiệt độ trong nhà xưởng và cải thiện môi trường làm việc cho công nhân 
 QLNV
2  Thay thế các dây cu roa chùng  7.3 triệu đồng Tiết kiệm 3.5 triệu đồng/năm  QLNV
3  Che chắn cho các động cơ khởi bị ướt  Không tốn chi phí Bảo quản động cơ tốt hơn   QLNV
5  Sử dụng đèn compac thay thế cho các bóng đèn sợi đốt và đèn T10 bằng T8  3 triệu đồng Tiết kiệm 0.3 triệu đồng/năm
cải thiện môi trường làm việc cho công nhân 
CTTB
6  Thay thế các van, vòi, ống dẫn bị rò rỉ nước Chi phí thấp  Giảm nước thải ra môi trường  QLNV
 Thay máy hồ  545 triệu đồng  Tiết kiệm 342 triệu đồng/năm  CTTB
 8  Thay máy tẩy  220 triệu đồng  Tiết kiệm 11.8 triệu đồng/năm  CTTB

Ghi chú: QLNV: Quản lý nội vi; CTTB: Cải tiến thiết bị.
 

Bên cạnh đó, Công ty còn nhận được sự hỗ trợ từ phía hợp phần CPI đối với 4 hạng mục của công trình SXSH.  Đó là xây dựng nhà lò hơi và đài nước cấp lò hơi; thay mới lò hơi; thay đổi thiết bị; xây dựng và lắp đặt hệ thống xử lý bụi bông và nước thải sản xuất. Tổng giá trị đầu tư 3.997.000.000 đồng, trong đó nguồn vốn do CPI tài trợ là 2.000.000.000 đồng, thời gian thực hiện đầu tư từ tháng 12/2008 đến tháng 7/2009.

Theo ông Trần Văn Liên - Giám đốc Công ty Nam Hưng: trong thời gian xây dựng nhà máy tại Khu công nghiệp Tân An, công ty đôi lúc gặp phải khó khăn, nhiều lúc tưởng chừng không thể vượt qua, tuy nhiên vì lợi ích lâu dài của DN và của cộng đồng xã hội trước vấn đề ô nhiễm môi trường, công ty đã cố gắng nỗ lực hết mình, nhờ vậy đến nay đã từng bước ổn định và đi vào sản xuất.

Từ thành công của Nam Hưng cùng một số DN khác trên địa bàn, nhiều DN đã chủ động làm việc với Sở Công Thương Quảng Nam để được tham gia vào chương trình của Hợp phần SXSH. Điều này cho thấy sự chuyển đổi về nhận thức của các DN, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ trong quá trình xây dựng phát triển DN theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường./.